[TTQT] Tìm hiểu các sai biệt thường gặp trong bộ chứng từ thanh toán theo LC - Nhóm 6.docx

July 20, 2017 | Tác giả: thonguyen294 | Danh mục: N/A
Share Nhúng


Mô tả ngắn

Download [TTQT] Tìm hiểu các sai biệt thường gặp trong bộ chứng từ thanh toán theo LC - Nhóm 6.docx...

Mô tả đầy đủ

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................................1 CHƢƠNG 1: MỘT VÀI NÉT VỀ THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - L/C........................3 1.1. Khái niệm ......................................................................................................................................3 1.2. Nội dung chủ yếu của thƣ tín dụng chứng từ L/C .....................................................................3 1.3. Bộ chứng từ trong thanh toán L/C .............................................................................................5 1.3.1. Chứng từ thương mại ............................................................................................................5 1.3.2. Chứng từ tài chính .................................................................................................................6 1.3.3. Các chứng từ khác do Thư tín dụng yêu cầu xuất trình, ví dụ:...........................................6 CHƢƠNG 2: NHỮNG SAI BIỆT THƢỜNG GẶP TRONG BỘ CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C ...............................................................................................................................................7 2.1. Những sai biệt thƣờng gặp trong chứng từ thƣơng mại ...........................................................7 2.1.1. Sai biệt trong chứng từ vận tải ..............................................................................................7 2.1.2. Sai biệt trong chứng từ bảo hiểm ........................................................................................10 2.1.3. Sai biệt trong chứng từ hàng hóa ........................................................................................10 2.2. Những sai biệt thƣờng gặp trong chứng từ tài chính ..............................................................15 2.2.1. Hối phiếu thương mại ..........................................................................................................15 CHƢƠNG 3: PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO DO SAI BIỆT TRONG BỘ CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C .................................................................................................................19 3.1. Đối với các nhà xuất, nhập khẩu: .............................................................................................19 3.1.1. Phòng ngừa ở giai đoạn ký kết hợp đồng thương mại quốc tế ..........................................19 3.1.2. Phòng ngừa ở giai đoạn tổ chức, thực hiện giao dịch L/C ................................................20 3.1.3. Phòng ngừa ở giai đoạn kiểm tra L/C .................................................................................21 3.2. Đối với ngân hàng ......................................................................................................................22 3.3. Các giải pháp kiến nghị đối với Chính phủ .............................................................................23 3.3.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế ...................................23 3.3.2. Đưa ra các định hướng và chính sách hỗ trợ phù hợp để phát triển hoạt động thanh toán quốc tế và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra .............................................................................24 KẾT LUẬN ............................................................................................................................................25 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................26 LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................................................27

LỜI MỞ ĐẦU Đứng trước nhiều cơ hội và thách thức, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Với mục tiêu bắt kịp với thế giới, Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài; đồng thời không ngừng nỗ lực hết mình để bắt kịp trình độ phát triển chung của thế giới và đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ. Trải qua nhiều sự kiện kinh tế lớn như gia nhập ASEAN năm 1995, AFTA năm 1996; trở thành thành viên của APEC năm 1998 và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2006, có thể nói Việt Nam là minh chứng cho một xu hướng được xem như là kim chỉ nam ở thời điểm hiện tại - xu hướng hội nhập. Sau khi gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới, Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội để khẳng định mình trên trường quốc tế và đồng thời cũng có thêm không ít các thách thức, khó khăn. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên phạm vi rộng lớn như hiện nay, các quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động giao thương nói riêng đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Chính hoạt động giao thương đã trở thành tiền đề cho hoạt động xuất nhập khẩu, một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế mở ngày nay. Dưới áp lực của nền kinh tế thị trường, các trung gian tài chính cũng phát triển nhanh chóng và gần như đáp ứng được tất cả những yêu cầu mà thị trường đòi hỏi. Các trung gian này có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch vụ thanh toán đa dạng, góp phần phát triển hoạt động giao dịch giữa các công ty Việt Nam và nước ngoài, bởi thanh toán là khâu then chốt, giữ vai trò quan trọng trong hợp đồng ngoại thương. Việc thanh toán diễn ra tốt đẹp không chỉ góp phần tạo nên dòng tiền, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp, ngân hàng cũng như các đối tượng liên quan. Bên cạnh đó, việc thực hiện tốt công tác thanh toán cũng sẽ khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, gia tăng khối lượng 1

hàng hóa mua bán, thúc đẩy ngoại thương phát triển. Nhìn nhận được tầm quan trọng của việc thanh toán trong hợp đồng ngoại thương, các bên ký kết luôn lựa chọn các phương thức thanh toán thích hợp nhất nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong các trường hợp phát sinh tranh chấp. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ,… Trong đó, thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ đang được sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn cả trong buôn bán ngoại thương do những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương thức thanh toán khác. Tuy nhiên, đây cũng là phương thức thanh toán có quy trình nghiệp vụ phức tạp, liên quan đến nhiều công nghệ hiện đại, nhiều quy định nghiêm ngặt và phải giao dịch trên phạm vi quốc tế, dẫn đến một số rủi ro nhất định mà chúng ta cần phải cẩn trọng và xem xét kỹ lưỡng khi lựa chọn sử dụng. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp của Việt Nam thường gặp khó khăn trong giao dịch bằng L/C mà chủ yếu nguyên nhân xoay quanh về thanh toán chậm trễ, khiếu kiện kéo dài, không được thanh toán và thậm chí là bị lừa, gây thiệt hại về thời gian và kinh tế của doanh nghiệp. Xét thấy, ở một góc độ tổng quan thì một trong những yếu tố dẫn đến những rủi ro trên xuất phát chính từ Bộ chứng từ thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ. Từ thực tiễn trên, nhóm chúng em đã quyết định đi sâu tìm hiểu về đề tài “Các sai biệt thường gặp trong bộ chứng từ thanh toán theo L/C”. Bài tiểu luận có kết cấu bao gồm 3 phần chính như sau: Chương 1: Một vài nét về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ - L/C. Chương 2: Những sai biệt thường gặp trong bộ chứng từ thanh toán theo L/C. Chương 3: Phòng ngừa và hạn chế những rủi ro do sai biệt trong bộ chứng từ thanh toán theo L/C.

2

CHƢƠNG 1: MỘT VÀI NÉT VỀ PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - L/C 1.1. Khái niệm Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc người chấp nhận hối phiếu, do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng. Điều 2 trong UCP 500 của Phòng thương mại quốc tế đưa ra một định nghĩa, theo đó thư tín dụng chứng từ là: Bất cứ thỏa thuận được gọi hoặc miêu tả như thế nào, theo đó ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) hoặc đại diện cho bản thân mình: - Thanh toán cho, hoặc theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người thụ hưởng ký phát. - Ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu. - Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng với điều kiện phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. 1.2. Nội dung chủ yếu của thƣ tín dụng chứng từ L/C - Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C:  Số hiệu.  Địa điểm mở: Nơi ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu.  Ngày mở: Ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và là căn cứ để người xuất khẩu

3

kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn như quy định trong hợp đồng hay không. - Loại thư tín dụng: Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi nghĩa vụ của các bên khác nhau nên cần phải xác nhận loại thư tín dụng cần mở. - Tên, địa chỉ của người thụ hưởng. - Số tiền của thư tín dụng: Số tiền của thư tín dụng vừa ghi bằng số, vừa ghi bằng chữ và thống nhất với nhau hoặc có thể chỉ cần số tiền bằng số. Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng. Cách ghi số tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được. Những từ “khoảng chừng”, “độ khoảng”, hoặc những từ ngữ tương tự được dùng để chỉ biên độ số tiền của L/C cho phép xê dịch hơn kém không quá 10% của tổng số tiền đó. - Thời gian hiệu lực: Thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với L/C. - Thời hạn trả tiền của L/C: Thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau. Điều này có thể nhận dạng ở hối phiếu của người xuất khẩu ký phát. Thời hạn về giao hàng cũng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định như đã phân tích ở trên, thời hạn giao hàng có thể có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C. - Thời hạn giao hàng: Thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. - Những nội dung về hàng hóa: Tên hàng, số lượng, trọng lượng (có cả sai lệch cho phép), giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu,... cũng được ghi vào thư tín dụng. - Những nội dung về vận tải: Giao nhận hàng hóa như điều kiện có cơ sở giao hàng, nơi gửi, giao hàng từng phần,… nơi giao cũng được ghi rõ trong thư tín dụng. - Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình: Nội dung then chốt của thư tín dụng, bởi vì bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng là một bằng chứng của

4

người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những quy định của thư tín dụng. - Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C: Nội dung cuối cùng của thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C. - Những điều kiện đặc biệt khác: Ví dụ như phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân hàng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng,… - Chữ ký của ngân hàng mở L/C: L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vậy người ký nó cũng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật. L/C mở bằng thư phải được ký bằng chữ ký đã được lưu ký tại ngân hàng đại lý. L/C mở bằng điện tử phải có sự đồng ý của ngân hàng và căn cứ vào mã khóa của L/C. 1.3. Bộ chứng từ trong thanh toán L/C 1.3.1. Chứng từ thương mại - Chứng từ vận tải: Chứng từ được thành lập bởi người có trách nhiệm sau khi người bán giao hàng cho người chuyên chở tại địa điểm giao hàng quy định. Chứng từ vận tải bao gồm:  Vận đơn đường biển: Chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển do người có chức năng ký phát cho người gửi hàng sau khi hàng hóa đã được nhận để chở hay được bốc lên tàu.  Chứng từ vận tải đa phương thức: Chứng từ chứng minh cho hoạt động vận tải đa phương thức từ một điểm xuất phát qua một hay nhiều điểm xen giữa đến một điểm cuối cùng do một người chuyên chở đứng ra tổ chức cho toàn bộ hành trình.  Biên lai gửi hàng đường biển.  Vận đơn hàng không: Chứng từ vận chuyển hàng hóa bằng máy bay, và những điều kiện của hợp đồng của việc tiếp nhận hàng hóa để chuyên chở  Chứng từ vận tải đường sắt, đường bộ và đường sông.

5

- Chứng từ bảo hiểm: Chứng từ do người bảo hiểm lập và cấp cho người được bảo hiểm làm bằng chứng cho hợp đồng bảo hiểm và điều tiết mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm. Chứng từ bảo hiểm bao gồm:  Bảo hiểm đơn.  Giấy chứng nhận bảo hiểm.  Hợp đồng bảo hiểm.  Phiếu bảo hiểm. - Chứng từ hàng hóa:  Hóa đơn thương mại.  Giấy chứng nhận xuất xứ.  Phiếu đóng gói.  Giấy kiểm định.  Giấy chấp nhận chất lượng, số lượng.  Chứng từ khác. 1.3.2. Chứng từ tài chính - Hối phiếu: Một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một ngày xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả tiền cho một người khác, hoặc trả cho người cầm phiếu. - Hóa đơn: được sử dụng trong trường hợp thay hối phiếu để đòi tiền. 1.3.3. Các chứng từ khác do Thư tín dụng yêu cầu xuất trình, ví dụ: - “Bản sao của bản fax thông báo giao hàng cho Người yêu cầu”. - “Biên lai bưu điện DHL chứng minh đã gửi 1/3 vận đơn bản gốc kèm bộ chứng từ gửi hàng kèm bản sao cho người yêu cầu”. - “…”

6

CHƢƠNG 2: NHỮNG SAI BIỆT THƢỜNG GẶP TRONG BỘ CHỨNG TỪ THANH TOÁN THEO L/C 2.1. Những sai biệt thƣờng gặp trong chứng từ thƣơng mại 2.1.1. Sai biệt trong chứng từ vận tải Trong thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit), các ngân hàng luôn đề cao nghiệp vụ kiểm tra chứng từ để đưa ra kết luận về một xuất trình phù hợp. Trong đó, kiểm tra chứng từ vận tải mà điển hình nhất là vận đơn đường biển là một trong những nhiệm vụ quan trọng và khá phức tạp, xuất phát từ vai trò của vận đơn trong quá trình thanh toán cũng như tỷ trọng của phương thức vận tải đường biển trong mối quan hệ với các phương thức vận tải khác. Dưới đây là những sai biệt thường gặp trong vận đơn vận tải mả điển hình là B/L với những tình huống thực tế: (1) Mục shipper, consingee, notify party không khớp với các quy định trong L/C: - Mục Shipper: Ghi tên người bán trong hợp đồng hay trong L/C và không được viết tắt. - Mục Consignee: Ghi tên và địa chỉ người nhận hàng (consignee) đúng với quy định của L/C. Có thể nói đây phần sai sót nhiều nhất trong vận đơn vì phần quy định rất khác nhau trong L/C. Có 03 trường hợp:  Nếu trong L/C qui định “Full set of original of clean on board ocean B/L showing L/C No made out to order of shipper and blank endorse...” thì người gửi hàng ký hậu để trắng (chỉ ký tên, mà không ghi tên người được hưởng lợi tiếp theo), trong phần “Consignee” chỉ ghi “to order” - Ai cầm vận đơn này điều có thể đi nhận hàng.  Nếu trong L/C qui định “... made out to order of issuing bank...” thì phần “consignee” phải ghi “to order of” + tên địa chỉ ngân hàng phát hành. Trong trường hợp này, người nhập khẩu chỉ có thể đi nhận hàng khi có chữ ký hậu của ngân hàng phát hành. Trường hợp này xảy ra khi người nhập khẩu không ký quỹ đủ.

7

 Nếu trong L/C qui định “... made out to order of applicant...” thì ở phần “consignee” là “to order of” + tên, địa chỉ người xin mở L/C. Trường hợp này xảy ra khi khách hàng ký quỹ đủ. - Mục Notify Party: Tên và địa chỉ người được thông báo khi tàu cập bến cảng phải là tên người mua, tên này phải đúng như trong L/C yêu cầu và không được viết tắt. Nếu người được thông báo là một người khác thì trong L/C phải được ghi rõ. (2) Cảng bốc và cảng dỡ không khớp với quy định trong L/C. - Có 2 nguyên nhân:  Do người lập không nắm vững L/C.  Do bên thuê tàu không làm đúng theo hành trình trong L/C quy định. Ví dụ: Tháng 8/2007, Công ty Dược phẩm T xuất một lô hàng sang Ấn Độ, trị giá lô hàng là 6.400 USD, phương thức thanh toán bằng L/C không hủy ngang, trả ngay, được phép chuyển tải, tuân thủ UCP 600. NH mở L/C là Standard Chactered Bank (SCB), NH thông báo là NH A, L/C có yêu cầu:  Trọn bộ 3 bản gốc B/L đã bốc, hoàn hảo.  Gửi hàng được tiến hành từ bất kỳ cảng nào của Việt Nam đến cảng Bombay, Ấn Độ. Công ty Dược phẩm T đã tiến hành gửi hàng bằng đường biển từ một cảng tại Việt Nam đến cảng Cancutta, sau đó hàng được chuyển tải đến cảng Bombay Ấn Độ. Sau khi gửi hàng, công ty dược phẩm T lập bộ chứng từ và xuất trình cho ngân hàng A để gửi tới SCB yêu cầu thanh toán. Trên vận đơn xuất trình có ghi:  Cảng bốc hàng (Port of loading): Cảng Hải Phòng, Việt Nam.  Cảng dỡ hàng (Port of discharge): Cảng Cancutta, Ấn Độ.  Nơi đến cuối cùng (Place of final destination): Cảng Bombay, Ấn Độ. Kết quả, SCB đã từ chối thanh toán bộ chứng từ trên với lý do là B/L không thể hiện việc gửi hàng từ một cảng Việt Nam đến cảng Bombay Ấn Độ như yêu cầu của L/C. Điều 19a UCP 600 yêu cầu chứng từ vận tải đa phương thức phải chỉ rõ nơi gửi

8

hàng, nhận hàng để chở hoặc giao và nơi hàng đến cuối cùng như qua định trong L/C. Trong trường hợp này, L/C quy định việc gửi hàng từ “một cảng Việt Nam” đến “cảng Bombay, Ấn Độ”. Do đó, chứng từ vận tải được chấp nhận phải chỉ rõ được bốc hàng tại cảng Hải Phòng, Việt Nam và dỡ hàng tại cảng Bombay, Ấn Độ. Tuy nhiên, B/L được xuất trình ghi là cảng dỡ hàng là cảng Cancutta, Ấn Độ là không phù hợp theo yêu cầu L/C. Hơn nữa, điều 19b UCP 600 cũng định nghĩa “chuyển tải là dỡ hàng xuống từ phương tiện vận tải này và bốc hàng lên một phương tiện vận tải khác (dù cho phương thức vận tải có khác nhau hay không) trong quá trình vận chuyển từ nơi gửi, nhận hàng để chở hoặc nơi giao đến nơi cuối cùng quy định trong thư tín dụng”. Trong khi đó, công ty dược phẩm T hiểu sai rằng chuyển tải là chuyển sang một phương tiện vận chuyển khác. Vì thế, công ty gửi hàng bằng đường biển đến cảng Cancutta và vận chuyển bằng đường bộ đến cảng Bombay. Do tất cả những lỗi trên nên NH mở L/C đã từ chối thanh toán và phải mất rất nhiều thời gian thương lượng cũng như chi phí tốn kém, NH A mới thuyết phục được đối tác chuyển sang phương thức nhờ thu. (3) B/L xuất trình cho ngân hàng trễ hơn 21 ngày sau ngày lập vận đơn, hoặc xuất trình khi L/C đã hết thời hạn có hiệu lực. (4) Trên B/L ghi hàng đã chất lên boong tàu (on deck cargo) thay vì đúng phải ghi là hàng đã để trong hầm tàu (on board). (5) B/L xuất trình không phải là vận đơn hoàn hảo. (6) Ký hậu, chuyển nhượng B/L không đúng. (7) Các thay đổi bổ sung trên vận đơn không có xác nhận của người lập(chữ ký và con dấu) (8) Vận đơn thiếu tính chính xác thực do người lập vận đơn không nêu rõ tư cách pháp lý đối với trách nhiệm chuyên chở lô hàng này (9) Số L/C và ngày mở L/C không chính xác. (10) Các điều kiện đóng gói và ký mã hiệu hàng hoá không theo đúng quy định của L/C. 9

(11) Số hiệu container hay lô hàng không khớp với các chứng từ khác như chứng từ bảo hiểm, hoá đơn. 2.1.2. Sai biệt trong chứng từ bảo hiểm Chứng từ bảo hiểm bao gồm bảo hiểm đơn, giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, phiếu bảo hiểm. Trong thanh toán quốc tế, những sai sót trong chứng từ bảo hiểm dưới đây sẽ khiến ngân hàng từ chối chấp nhận thanh toán: (1) Chứng từ bảo hiểm có ngày phát hành trễ hơn ngày bốc hàng lên tàu hoặc ngày nhận hàng để gửi hàng đi. (2) Các loại tiền ghi trong chứng từ bảo hiểm khác với loại tiền ghi trong L/C. (3) Các chứng từ bảo hiểm do các nhà môi giới bảo hiểm cấp. (4) Các chứng từ bảo hiểm chưa được người mua bảo hiểm đích danh ký hậu. (5) Mức mua bảo hiểm không đúng như quy định của L/C. VÍ dụ mức phí bảo hiểm là 110% giá trị CIF, nếu người xuất khẩu xuất trình bảo hiểm 120% hay 125% giá trị CIF thì cũng không được ngân hàng chấp nhận. (6) Sai số trên băng số và băng chữ. (7) Người mua bảo hiểm không ký hậu hay kí hậu không hợp lệ. Du là người bán hàng mua bảo hiểm cho hàng hóa của mình nhưng khi bán hàng hóa lại cho người mua thì quyền sở hữu hàng hóa sẽ chuyển từ người bán sang người mua. Do đó, người bán sẽ chuyển được bảo hiểm hàng hóa sang cho người mua bằng cách kỹ hậu vào hợp đồng bảo hiểm. (8) Số bản chính được xuất trình không đủ theo yêu cầu L/C. 2.1.3. Sai biệt trong chứng từ hàng hóa 2.1.3.1. Hóa đơn thương mại - Người bán cho rằng hoa hồng, tiền bản quyền và các loại phí khác không phải chịu thuế nên không ghi vào trong hóa đơn. - Người xuất khẩu mua hàng từ nhà sản xuất rồi bán lại cho người nhập khẩu và chỉ ghi trên hóa đơn giá họ mua của người sản xuất chứ không ghi giá họ bán cho người nhập khẩu. 10

- Trị giá nguyên liệu của người nhập khẩu cung cấp cho người xuất khẩu để sản xuất ra hàng hóa không được thể hiện trong hóa đơn. - Nhà sản xuất nước ngoài gửi hàng thay thế cho một khách hàng và chỉ ghi giá thực thu của hàng hóa mà không thể hiện giá đầy đủ trừ đi tiền bồi thường cho hàng hóa khiếm khuyết đã giao trước đây và bị trả lại. - Người giao hàng nước ngoài bán hàng có chiết khấu nhưng trên hóa đơn chỉ ghi giá thực thu mà không thể hiện số tiền chiết khấu. - Người xuất khẩu bán hàng theo giá giao hàng (giá gắn với một điều kiện giao hàng nào đó ví dụ như giá CIF chẳng hạn) nhưng chỉ ghi hóa đơn theo giá FOB tại nơi xếp hàng và không ghi những chi phí tiếp theo sau. - Người giao hàng ghi trên hóa đơn người nhập khẩu là người mua hàng nhưng trên thực tế người nhập khẩu chỉ là đại lý hoa hồng hoặc là bên chỉ nhận một phần tiền bán hàng cho việc làm trung gian của mình. - Mô tả hàng hóa không rõ ràng, thiếu một số thông tin yêu cầu, gộp nhiều mặt hàng vào cùng một loại,... - Ngoài ra, đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, việc lập hóa đơn thương mại còn mắc phải các lỗi sau:  Sai sót tên và địa chỉ người thụ hưởng (người lập hóa đơn), người mở L/C (người mua hàng) so với L/C. Lỗi này thường rất hay xảy ra, nhất là khi L/C ghi tên và địa chỉ người thụ hưởng không đúng với thực tế.  Người lập hóa đơn khác với người đựơc quy định trong L/C.  Mô tả hàng hóa trên hóa đơn khác biệt với mô tả hàng hóa trong L/C, sự khác biệt này chỉ có thể chấp nhận nếu mô tả hàng hóa trên hóa đơn đảm bảo đầy đủ như nội dung trên L/C và có thể chi tiết hơn. Vì vậy, đơn vị xuất khẩu nên ghi lại “nguyên xi” nội dung mô tả hàng hóa của L/C vào hóa đơn, trừ đơn giá và điều kiện giao hàng sẽ được ghi vào mục thích hợp khác.

11

Ví dụ: Công ty H (Việt Nam) ký một hợp đồng nhập hóa chất từ công ty X (Trung Quốc). Trị giá L/C: 50.000USD CÌ Hải Phòng Incoterms 2000. Trong L/C quy định về mô tả hàng hóa: mã hàng 160-4690 và 270-3210. Khi bộ chứng từ được gửi đến ngân hàng mở L/C của Việt Nam, hóa đơn thương mại có ghi ba mã hàng sau:  160-4690 đơn giá 41,00 USD/kg.  270-3210 đơn giá 32,50 USD/kg.  511-74 miễn phí. Điều kiện giao hàng CIF Hải Phòng không ghi trong hóa đơn thương mại. Công ty H từ chối thanh toán với lý do mô tả hàng hóa không đúng theo quy định của L/C. Và NH mở L/C cũng xác định đây là bộ chứng từ có lỗi và không thanh toán cho công ty X với lý do rằng: điều kiện CIF Hải Phòng là một bộ phận của mô tả hàng hóa trong thư tín dụng, nếu không làm sao các bên liên quan có thể xác định điều kiện giao hàng so với quy định của thư tín dụng. Trả lời từ phía công ty X và ngân hàng đòi tiền của Trung Quốc như sau:  Về mặt hàng thứ 3 mô tả trong hóa đơn thương mại nhằm để giải thích thêm, không có trong L/C và trị giá hóa đơn cũng không bị ảnh hưởng.  Về quy định ghi giá CIF trong hóa đơn thì điều kiện giao hàng không phải là một phần của điều kiện mô tả hàng hóa, mà đây là điều khoản không liên quan đến chứng từ, do đó không phải sai sót. Ngân hàng mở L/C phía Việt Nam vẫn dứt khoát tuyên bố chứng từ sai sót. Theo ngân hàng mở L/C, điều kiện giao hàng CIF Hải Phòng là một bộ phận của mô tả hàng hóa trong thư tín dụng, nếu không làm sao các bên tham gia có thể xác định điều kiện giao hàng so với quy định của L/C? Điều 64b ISBP 681 quy định: “Hóa đơn không được thể hiện hàng hóa không được yêu cầu trong L/C (kể cả hàng mẫu, vật phẩm quảng cáo,…), ngay cả khi nói rõ là “miễn phí”.

12

Điều 61 ISBP quy định: “Nếu điều kiện thương mại là một bộ phận của mô tả hàng hóa trong thư tín dụng hoặc được ghi gắn liền với số tiền, thì hóa đơn phải ghi rõ điều kiện thương mại đó và nếu mô tả hàng hóa chỉ ra nguồn của các điều kiện thương mại, thì phải chỉ rõ nguồn điều kiện thương mại đó.” Như vậy, căn cứ vào 2 điều kiện tập quán thương mại quốc tế nêu trên thì việc ngân hàng mở L/C từ chối thanh toán là hoàn toàn đúng.  Số lượng, trọng lượng hàng hóa và tổng trị giá hóa đơn không phù hợp với L/C. Lỗi này gọi là bất hợp lệ giao hàng thiếu hay giao hàng vượt (số lượng hay số tiền).  Hóa đơn không thể hiện điều kiện cơ sở giao hàng như: FOB – cảng xuất, CIF – cảng nhập hay NCF - cảng nhập …  Các thông tin liên quan tham chiếu từ những chứng từ khác không đồng nhất hay không đúng quy định L/C hay sai sót về lỗi chính tả.  Thiếu các điều kiện ghi thêm theo yêu cầu của L/C, các điều kiện thường được yêu cầu ghi thêm trên hóa đơn là Shipping mark, Số L/C (Credit No), C/O, …  Những phụ phí khác hoặc đơn vị xuất khẩu gửi thêm hàng mẫu để chào hàng (điều này không được quy định trong L/C) nhưng tính vào hóa đơn là bất hợp lệ.  Số tiền bằng số khác với số tiền bằng chữ hoặc số tiền bằng chữ viết sai lỗi chính tả.  Việc tẩy xóa sửa chữa không được đóng dấu sửa, ký nháy.  Số bản của hóa đơn không đủ hoặc không đúng theo yêu cầu.  Trước khi giao hàng và lập hóa đơn thương mại hoặc thậm chí ngay từ khi thảo luận hợp đồng, người xuất khẩu phải kiểm tra với người nhập khẩu hoặc luật sư hoặc đại lý giao nhận hàng hóa (tốt nhất là với người nhập khẩu) về những thông tin cần phải ghi trong hóa đơn thương mại.  Cẩn thận hơn nữa, người xuất khẩu nên gửi bản thảo hóa đơn thương mại cho người nhập khẩu để kiểm tra và thông qua trước khi lập hóa đơn chính thức.

13

2.1.3.2. Phiếu đóng gói - Không nêu hoặc nêu không chính xác các điều kiện đóng gói theo quy định của L/C. - Thông tin về các bên liên quan không đầy đủ và chính xác. - Tổng trọng lượng từng đơn vị hàng hóa không khớp với trọng lượng cả chuyến hàng. - Mô tả hàng hóa trong phiếu đóng gói không phù hợp với L/C và các chứng từ khác trong bộ chứng từ. 2.1.3.3. Giấy chứng nhận xuất xứ - Loại C/O không đúng đòi hỏi của L/C. - Tên người gửi hàng, nhận hàng, tên cảng bốc, cảng dỡ koong ghi đúng theo B/L, L/C. - Phần mô tả hàng hóa có thiếu sót hoặc không khớp với L/C. - Người chứng thực L/C không hợp lệ. - Ngày ký lập C/O sai: Ngày này không được lập sau ngày giao hàng hay ngày ký vận đơn. - Thiếu sót các yêu cầu mà L/C yêu cầu phải bổ sung. 2.1.3.4. Giấy chứng nhận xuất xứ, số lượng, chất lượng hàng hóa - Mô tả chất lượng hàng hóa trên giấy chứng nhận sai khác so với quy định của L/C và các chứng từ khác. - Cơ quan cấp giấy chứng nhận chất lượng không phải cơ quan như quy định của L/C. - Người ký giấy chứng nhận khác với L/C quy định. - Ngày cấp giấy chứng nhận sau ngày giao hàng. Ví dụ: Công ty X xuất khẩu mặt hàng giày mùa đông cho tập đoàn Jungmin Corp Hàn Quốc vào tháng 10/2007, phương thức thanh toán là L/C không hủy ngang, trị giá lô hàng là 30.820USD. Người xin mở L/C, Jungmin Corp yêu cầu trong bộ chứng từ đòi tiền phải có Giấy chứng nhận của người mua chứng nhận là đã nhận hàng tại cảng 14

Busan, Hàn Quốc. Một tháng sau khi mở L/C, chuyến hàng đã cập bến cảng Busan đúng thời hạn quy định, nhưng công ty X không thể lấy được Giấy chứng nhận của người mua. Kết quả là NH mở L/C phía Hàn Quốc từ chối thanh toán bộ chứng từ do thiếu giấy chứng nhận. Sau hơn một năm dài thương lượng, Công ty Giầy Việt Nam mới nhận được một khoản bồi thường nhưng đã phải chịu những tổn thất nặng nề. Theo UCP 600, người mua và người bán tự do thỏa thuận các loại chứng từ yêu cầu xuất trình. Ngân hàng sẽ không phản đối nếu như sự thảo thuận này được thể hiện trong L/C. Do không tìm hiểu kỹ các khả năng có thể cung cấp các loại giấy tờ nên người bán đã chuốc lấy rủi ro khi chấp nhận một thư tín dụng được yêu cầu một loại chứng từ do người mua hoặc thay mặt người mua cấp. 2.1.3.5. Giấy chứng nhận kiểm dịch và giấy chứng nhận vệ sinh - Cơ quan cấp không phù hợp với cầu của L/C. - Ngày cấp giấy chứng nhận sau ngày giao hàng. 2.2. Những sai biệt thƣờng gặp trong chứng từ tài chính 2.2.1. Hối phiếu thương mại : - Hối phiếu có giá trị thanh toán phải là hối phiếu bản gốc, có chữ ký bằng tay của người ký phát trên hối phiếu. - Kiểm tra ngày ký phát hối phiếu có trùng hoặc sau ngày B/L và trong thời hạn hiệu lực của L/C hay không. Vì sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu hoàn tất bộ chứng từ gửi hàng rồi mới ký phát hối phiếu đòi tiền. - Kiểm tra số tiền ghi trên hối phiếu, số tiền này phải nằm trong trị giá của L/C và phải bằng 100% trị giá hoá đơn. - Kiểm tra thời hạn ghi trên hối phiếu có đúng như L/C quy định hay không. Trên hối phiếu phải ghi “at sight” nếu là thanh toán trả ngay hoặc “at ... days sight” nếu là thanh toán có kỳ hạn. - Kiểm tra các thông tin về các bên liên quan trên bề mặt hối phiếu: tên và địa chỉ của người ký phát (drawer), người trả tiền (drawee). Theo UCP 500, người trả tiền là ngân hàng mở L/C. 15

- Kiểm tra số L/C và ngày của L/C ghi trên hối phiếu có đúng không. - Kiểm tra xem hối phiếu đã được ký hậu hay chưa. Nếu bộ chứng từ đã được chiết khấu trước khi gửi đến ngân hàng thì trên mặt sau hối phiếu phải có ký hậu của ngân hàng thông hoặc hối phiếu được ký phát theo lệnh của ngân hàng thông báo. - Một số trường hợp bất hợp lệ thường gặp khi kiểm tra hối phiếu:  Hối phiếu chưa ký hậu.  Hối phiếu thiếu hoặc không chính xác về tên và địa chỉ của các bên có liên quan. Sai sót nhầm lẫn hay gặp nhất là sai tên người bị ký phát trong phương thức thanh toán bằng L/C: Đáng lẽ phải ký phát cho ngân hàng mở L/C thì người bán lại ký phát hối phiếu cho người mua. Khi L/C quy định “Drawn on issuing bank (đòi tiền ngân hàng mở L/C), mà người hưởng lợi (nhà xuất khẩu) lại ký phát cho applicant (người mua) thì hối phiếu không có giá trị. Hoặc có thể xảy ra trường hợp là ngân hàng mở L/C chỉ định nhà xuất khẩu đòi tiền một ngân hàng chi nhánh hoặc ngân hàng đại lý của nó (Paying bank); nếu người bán ký phát hối phiếu không đọc kỹ L/C, lại ký phát cho ngân hàng mở L/C thì sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán.  Số tiền ghi trên hối phiếu bằng số và bằng chữ không khớp nhau hay không bằng trị giá hoá đơn (xem thêm phần hóa đơn thương mại). Ví dụ, số tiền bằng số là USD 21,619.30 nhưng số tiền bằng chữ là “USD twenty thousand, six hundred nineteen and cents thirty only”. Tuy sai sót này nhỏ nhưng ngân hàng mở L/C có thể trì hoãn việc thanh toán rất lâu.  Ngày ký phát hối phiếu quá hạn hiệu lực của L/C (khi thanh toán bằng thư tín dụng).  Số L/C và ngày mở L/C ghi trên hối phiếu không chính xác.  Số tiền ghi trên hối phiếu không bằng trị giá hoá đơn, hay vượt quá trị giá L/C quy định. Ví dụ, trong hoá đơn ghi “Total amount: USD 8,960.55” nhưng thay vì phải ghi như vậy thì các Công ty xuất nhập khẩu chỉ ghi “USD 8,960.00” (tức thiếu 55 cents) trên hối phiếu.

16

 Sự sửa chữa trên hối phiếu không được đóng dấu sửa (đóng dấu ruồi) và ký nháy. - Một số trở ngại khác trong việc thanh toán sử dụng bộ chứng từ có hối phiếu:  Người nhập khẩu từ chối hối phiếu (hoặc không trả lời thư hối thúc của Ngân hàng mở L/C): Trường hợp này cũng có thể xảy ra khi người nhập khẩu không có thiện chí, gây khó khăn và rủi ro cho người xuất khẩu, đặc biệt trong phương thức thanh toán bằng chuyển tiền hoặc nhờ thu. Trong tình huống này ngân hàng thu hộ không có trách nhiệm tài chính nào phải thanh toán tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ, trừ khi ngân hàng thu hộ trước đó đã bảo lãnh thanh toán vào ngày đáo hạn cho ngân hàng chuyển chứng từ, hoặc trước đó đã làm thủ tục bảo lãnh cho người nhập khẩu đi lấy hàng hóa.  Vẫn còn những nhầm lẫn cho rằng hối phiếu giống với các chứng từ khác được yêu cầu trong bộ chứng từ L/C. Vấn đề hối phiếu có được xem là chứng từ giống như các chứng từ khác được yêu cầu xuất trình theo L/C hay không hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, Uỷ ban Ngân hàng ICC (UBNH ICC) và đa số các chuyên gia hàng đầu về L/C như T.O Lee (T.O. Lee Consultants Ltd.), Reinhard Langerich (Nordea Bank), Heinz Hertl (Bank of Austria AG Vienna),… đều ủng hộ quan điểm cho rằng hối phiếu không phải là chứng từ giống như các chứng từ khác được yêu cầu theo L/C và rằng sai sót liên quan đến hối phiếu không phải là lý do để từ chối trả tiền. Cụ thể:  Ngân hàng chứ không phải người mở L/C yêu cầu hối phiếu.  Hối phiếu không đóng vai trò gì trong giao dịch gốc giữa người bán và người mua.  Một số loại L/C không yêu cầu hối phiếu, chẳng hạn như L/C trả ngay không có hối phiếu (sight payment L/C) hoặc L/C trả chậm không có hối phiếu (deferred payment L/C).

17

 Hối phiếu không được liệt kê ở các Field quy định về chứng từ như Field 46A (Các chứng từ được yêu cầu) hoặc Field 78A (Các chỉ thị đặc biệt) trong các thông báo L/C bằng SWIFT hoặc bằng thư. Xin dẫn chứng thêm phán quyết của Toà Thương Mại Anh Quốc liên quan đến vụ tranh chấp giữa China Merchants Bank (CMB) và Credit Industriel et Commerciale (CIC) năm 2002 để làm rõ vấn đề hối phiếu có phải là chứng từ giống như các chứng từ khác được yêu cầu theo L/C và sai sót của hối phiếu có đủ cơ sở để NHPH từ chối hay không. L/C do CMB phát hành quy định tại Field là các chứng từ phải được lập bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, CIC xuất trình chứng từ kèm theo mẫu hối phiếu in sẵn bằng tiếng Pháp. CMB thông báo từ chối trả tiền với lý do chứng từ sai sót, trong đó có nêu sai sót của hối phiếu như sau: Hối phiếu của người hưởng lợi không được lập bằng tiếng Anh (Beneficiary’s draft not made in English). => Quan toà David Steel sau khi tham khảo ý kiến của UBNH ICC và ra phán quyết liên quan đến sai sót của hối phiếu như sau: “… căn cứ cấu trúc của L/C, các chứng từ được yêu cầu lập bằng tiếng Anh tại Field 47A là các chứng từ được yêu cầu chiết khấu được nêu tại Field 46A. Những chứng từ này không bao gồm các hối phiếu. Sự khác biệt này được thể hiện rõ tại Field 78A, theo đó ngân hàng đã cam kết rằng khi nhận được “các chứng từ”… Các hối phiếu không phải là một phần của các chứng từ thương mại, mà sau khi chiết khấu, sẽ được giao cho người yêu cầu mở L/C. Chúng (hối phiếu) đơn giản chỉ là một phần của tiến trình theo đó nghĩa vụ trả tiền của CMB có thể được đặt dưới dạng có thể sẵn sàng được chiết khấu. Việc không chấp nhận hối phiếu không giải trừ CMB khỏi nghĩa vụ phải trả tiền khi đáo hạn.”.

18

CHƢƠNG 3: PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ SAI BIỆT TÍN DỤNG CHỨNG TỪ THEO L/C 3.1. Đối với các nhà xuất, nhập khẩu: 3.1.1. Phòng ngừa ở giai đoạn ký kết hợp đồng thương mại quốc tế đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế có thỏa thuận thanh toán bằng L/C, các doanh nghiệp nhập khẩu cần nắm vững những vấn đề cơ bản trong giao dịch bằng L/C, đó là: - Mặc dù L/C được hình thành từ hợp đồng thương mại quốc tế nhưng khi đã được thiết lập thì L/C lại hoàn toàn độc lập với chính hợp đồng đó. Hệ quả là điều khoản nào của hợp đồng không được ghi vào L/C sẽ không có giá trị điều chỉnh đối với các bên liên quan. Mặt khác, những điều khoản mà hợp đồng không điều chỉnh nhưng lại được quy định trong L/C thì sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên liên quan. Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, không chỉ doanh nghiệp xuất khẩu mà cả doanh nghiệp nhập khẩu cần phải đặc biệt chú ý đến điều khoản thanh toán. Một vấn đề nữa cần chú ý là doanh nghiệp xuất khẩu khi nhận được thông báo L/C phải kiểm tra chi tiết nội dung L/C và hợp đồng thương mại quốc tế đã ký kết, còn doanh nghiệp nhập khẩu khi chuyển tải các nội dung thanh toán vào đơn mở L/C cần phải đảm bảo độ chính xác cao. - Doanh nghiệp xuất khẩu cần phải biết về khả năng, uy tín của ngân hàng phát hành do cam kết trả tiền L/C được thực hiện bởi chính ngân hàng phát hành chứ không phải doanh nghiệp nhập khẩu. Do vậy, việc biết được chắc chắn khả năng, uy tín của ngân hàng phát hành có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo khả năng thu được tiền bán hàng của doanh nghiệp xuất khẩu. Để biết được khả năng, uy tín của ngân hàng phát hành, doanh nghiệp xuất khẩu cần yêu cầu ngân hàng phục vụ mình tư vấn về khả

19

năng, uy tín của ngân hàng phát hành, bởi trong hoạt động nghiệp vụ, các ngân hàng luôn thực hiện việc cập nhật thông tin của các ngân hàng khác trên thế giới. Bên cạnh đó, để lường trước rủi ro, trước khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, doanh nghiệp xuất khẩu nên đến ngân hàng phục vụ mình để yêu cầu tư vấn về khả năng, uy tín của ngân hàng phát hành cũng như các điều khoản cụ thể trong L/C nhằm tránh trường hợp khi nhận được L/C mới đi tư vấn, như vậy thì đã quá muộn. - Theo thông lệ quốc tế, các ngân hàng xử lý L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, không căn cứ vào hàng hóa, do đó doanh nghiệp xuất khẩu có thể giao hàng không đúng như hợp đồng thương mại quốc tế nhưng lập bộ chứng từ phù hợp với L/C thì vẫn thanh toán được tiền từ ngân hàng phát hành L/C. Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy rằng đã có một số trường hợp xuất hiện chứng từ giả mạo mà UCP lại cho phép các ngân hàng miễn trách về chứng từ giả mạo, bởi thực tế ngân hàng cũng khó phát hiện được chứng từ giả mạo. Chính vì vậy, để hạn chế rủi ro, doanh nghiệp nhập khẩu cần tìm hiểu kỹ đối tác, giám sát chặt chẽ lô hàng, quá trình giao hàng cũng như có những quy định cụ thể đối với bộ chứng từ xuất trình. 3.1.2. Phòng ngừa ở giai đoạn tổ chức, thực hiện giao dịch L/C đối với doanh nghiệp xuất, nhập khẩu. Khi thiết lập một bộ chứng từ L/C, doanh nghiệp xuất - nhập khẩu cần thực hiện tốt các công việc theo trình tự sau: - Thứ nhất, doanh nghiệp cần có sự phối kết hợp chặt chẽ trong các hoạt động xuất nhập khẩu bởi sai sót trong khâu lập chứng từ thường xảy ra phổ biến ở những doanh nghiệp hoạt động bán chuyên nghiệp, không được tổ chức tốt, ít tập huấn chuyên môn và không nắm vững L/C, UCP, ISBP và Incoterms. - Thứ hai, doanh nghiệp xuất khẩu cần chủ động thiết lập đề cương các điều khoản sẽ sử dụng trong thương lượng về nội dung L/C như một bộ phận cấu thành của hợp đồng thương mại quốc tế. Khi thương lượng phải làm rõ về số loại chứng từ, bản gốc, bản sao, số lượng mỗi bản, người phát hành, nội dung,… và phải luôn trong khả năng thực hiện đúng hạn. 20

- Thứ ba, doanh nghiệp xuất khẩu phải kiểm tra kỹ L/C ngay khi nhận được. Nếu phát hiện có điều khoản mập mờ, không rõ ràng, khó thực hiện thì yêu cầu sửa đổi, tu chính kịp thời nhằm tránh việc không thanh toán được tiền. - Thứ tư, doanh nghiệp xuất khẩu cần lập kế hoạch chi tiết cho các công việc như sản xuất hay thu gom hàng hóa xuất khẩu, giao hàng, lập bộ chứng từ, xuất trình… và tổ chức thực hiện, giám sát quá trình này. - Thứ năm, doanh nghiệp xuất khẩu chuẩn bị và tổ chức lập bộ chứng từ trên cơ sở nắm vững kiến thức chuyên môn, các quy tắc của UCP, ISBP, URC,... và sử dụng danh mục kiểm tra chứng từ (Checklist) để đối chiếu khi lập chứng từ và gửi nội dung mà các chứng từ phải tuân thủ cho người chuyên chở, công ty bảo hiểm, phòng thương mại… để lập các chứng từ tương ứng cho phù hợp với yêu cầu. - Thứ sáu, doanh nghiệp xuất khẩu cần kiểm tra bộ chứng từ trước khi xuất trình nhằm phát hiện ra các lỗi chính tả, đánh máy, in ấn… để tu chính kịp thời bởi biện pháp ngăn ngừa bao giờ cũng hữu hiệu hơn biện pháp sửa chữa. - Thứ bảy, doanh nghiệp xuất khẩu cần xuất trình bộ chứng từ đúng hạn cũng như tính toán để có đủ thời gian tu chính và xuất trình lại chứng từ nếu có sai sót xảy ra. - Thứ tám, doanh nghiệp xuất khẩu cần kiểm tra và kiểm soát thường xuyên quá trình lập bộ chứng từ và các nhân tố có thể làm cho quá trình này và việc xuất trình chậm trễ. Để hạn chế các sai sót của bộ chứng từ, doanh nghiệp xuất khẩu cần tuân thủ tiêu chí 3P gồm: Lập kế hoạch (Planning); Lập chứng từ (Preparation); Xuất trình (Presentation) cùng tiêu chí 3C trong lập chứng từ phù hợp gồm: Hoàn chỉnh (Complete); Chính xác (Correct); Nhất quán (Consistent). 3.1.3. Phòng ngừa ở giai đoạn kiểm tra L/C: Ngay khi nhận được L/C, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần kiểm tra L/C thuộc đối tượng điều chỉnh của UCP nào? Kiểm tra tính chân thực của L/C nhằm tránh trường hợp gặp L/C giả; kiểm tra nội dung chi tiết của L/C…

21

Quy tắc của UCP cho thấy một L/C không chỉ rõ là loại nào thì được xác định là loại không hủy ngang và trong trường hợp này cần kiểm tra các vấn đề là: L/C có được thanh toán theo thời hạn và đúng địa điểm như thỏa thuận không? Kiểm tra L/C thuộc loại Payment at sight, Deferred, Usance hay Negotiation; kiểm tra tên và địa chỉ của người mua và người bán; kiểm tra khoản phí của ngân hàng… Cần kiểm tra chi tiết của L/C như giá trị của L/C và điều kiện thanh toán; mô tả hàng hóa và xuất xứ hàng hóa; cơ sở và điều kiện giao hàng theo hợp đồng thương mại quốc tế; điều kiện về chuyển tải; ngày hết hạn của L/C… Thực tiễn lập bộ chứng từ và thanh toán bằng L/C rất phức tạp, đòi hỏi bộ phận chuyên môn của doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải có kinh nghiệm và am hiểu pháp luật về thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế. Có như vậy mới hạn chế đáng kể các rủi ro phát sinh khi sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C. 3.2. Đối với ngân hàng: Để có thể phòng ngừa và hạn chế một cách hiệu quả các sai biệt hay gặp trong tín dụng chứng từ theo L/C ngân hàng có thể thực hiện một số cách sau: - Thứ nhất, cần chú trọng việc nâng cao các nghiệp vụ, đạo đức, cũng như kiến thức về pháp luật cho các chuyên viên thanh toán quốc tế. Tổ chức các lớp tập huấn theo chuyên đề nghiệp vụ thanh toán quốc tế, tạo điều kiện cho các cán bộ tham gia lớp nâng cao trình độ chuyên môn, mời các chuyên gia giỏi trong và ngoài nước đào tạo nghiệp vụ. Mở các khóa đào tạo định kì như đào tạo cách nhận biết chứng từ giả, đào tạo về luật pháp quốc tế và các thông tư chỉ thị mới của Nhà nước…. Bên cạnh đó là phải đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa máy móc, trang thiết bị để có thể phù hợp với sự chọn lựa các công cụ thanh toán của các ngân hàng, phù hợp với bối cảnh nền kinh tế nước ta cũng như toàn thế giới. - Thứ hai, các bên ngân hàng cần liên hệ chặt chẽ đối với nhà xuất khẩu và nhập khẩu để tránh tình trạng trì hoãn việc thực hiện hợp đồng cũng như việc thanh toán đối với bên xuất khẩu. Quy chuẩn về thời gian thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên và

22

đưa ra đề xuất của ngân hàng tư vấn cho các nhà xuất nhập khẩu để có thể đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ mỗi bên. - Thứ ba, các ngân hàng thương mại tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát nội bộ, tránh để tình trạng có sơ suất sai biệt trong bộ chứng từ mà không phát hiện ra. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng nên đề nghị phòng thanh toán quốc tế trung ương cử cán bộ có năng lực xuống kiểm tra định kỳ về hoạt động thanh toán quốc tế, về thực hiện quy chế thanh toán quốc tế, quy định về huy động vốn và sử dụng nguồn vốn ngoại tệ của các ngân hàng thương mại để kịp thời phát hiện ra những biến động, những sai phạm và biểu hiện lệch lạc, từ đó có biện pháp cùng các ngân hàng điều chỉnh kịp thời. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng nên duy trì việc kiểm tra chéo nghiệp vụ bảo lãnh theo sự phân công của ngân hàng nhà nước. 3.3. Các giải pháp kiến nghị đối với Chính phủ: 3.3.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro, các quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách và củng cố hệ thống tài chính ngân hàng một cách tích cực, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế đang phát triển và ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập như Việt Nam. Thanh toán quốc tế mặc dù chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng nhưng lại liên quan trực tiếp tới quyền lợi, trách nhiệm và uy tín của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia. Cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có luật hay pháp lệnh riêng về hoạt động thanh toán quốc tế. Trên thực tế, các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại khi tham gia thanh toán tín dụng chứng từ vẫn thường gặp nhiều rủi ro, tranh chấp và xung đột pháp luật. Vì vậy, việc soạn thảo, bổ sung và hoàn chỉnh các văn bản pháp luật cho hoạt động thanh toán quốc tế là rất cần thiết cho các ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời đó cũng là cơ sở để tòa án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong quan hệ thanh toán quốc tế. Các văn bản pháp lý cần quy định cụ thể các quy chế và quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các bên tham gia hoạt động thanh toán quốc tế; cũng như mối quan hệ pháp lý giữa người mua, người bán và ngân 23

hàng trong việc thực hiện thanh toán quốc tế từ khâu ký kết hợp đồng đến khi kết thúc quá trình thanh toán. 3.3.2. Đưa ra các định hướng và chính sách hỗ trợ phù hợp để phát triển hoạt động thanh toán quốc tế và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra: Xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ đã và đang đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức to lớn. Thanh toán quốc tế là một hoạt động rất cần đến những chính sách trực tiếp cũng như các chính sách hỗ trợ phù hợp để ngày càng phát triển và hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng hay các đơn vị xuất nhập khẩu, gây thiệt hại cho nền kinh tế. Để cụ thể hóa và tạo nền tảng cho các chính sách đó, Nhà nước cần tạo sự phối hợp với các ban ngành, cơ quan chuyên trách quản lý các lĩnh vực có liên quan mật thiết tới công tác thanh toán quốc tế. Các cơ quan này cần tạo điều kiện và phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng thương mại sao cho quá trình thanh toán cũng như việc giải quyết rủi ro diễn ra thuận lợi và nhanh chóng. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần phải tăng cường vai trò quản lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế bằng cách đưa ra các giải pháp củng cố và phát triển hệ thống tài chính, thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng.

24

KẾT LUẬN Thế giới ngày càng mở cửa thì việc mở rộng giao lưu hợp tác của Việt Nam ở trong khu vực và trên thế giới ngày càng được khuyến khích. Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động mua bán hàng hoá phải được diễn ra bình đẳng theo cơ chế thị trường, dẫn đến khâu thanh toán cũng phải tuân thủ luật lệ và tập quán quốc tế được điều chỉnh trên cơ sở các quy định của các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng gia tăng, quan hệ bạn hàng ngày càng mở rộng tới mọi vùng quốc gia và lãnh thổ trên toàn thế giới, kéo theo hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng tăng trưởng mạnh trên mọi phương diện. Để đạt được kết quả này, ta cần phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các ngân hàng thương mại với tư cách là trung gian thanh toán quốc tế, với phương thức thanh toán chủ yếu là tín dụng chứng từ, đã giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng, liên tục và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế cũng không ngừng đổi mới sao cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Bằng uy tín, nguồn vốn và kinh nghiệm dày dạn của các ngân hàng thương mại trong hoạt động thanh toán quốc tế, đặc biệt là trong công tác thanh toán tín dụng chứng từ, phương thức tín dụng chứng từ đã thực sự trở thành một công cụ đắc lực cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động ngoại thương. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà phương pháp tín dụng chứng từ đem lại, các ngân hàng, người xuất khẩu, nhập khẩu cũng phải đối mặt với không ít các rủi ro khi thanh toán bằng phương thức này. Trước ngưỡng cửa của sự đổi mới và hội nhập, việc hạn chế , thậm chí không để xảy ra sai sót trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ là một yêu cầu hết sức đúng đắn và thiết thực. Chính vì vậy, việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ, giải quyết những vướng mắc còn tồn đọng chính là một trong những việc mà các ngân hàng thương mại, người xuất nhập khẩu và các cơ quan chức năng cần phải sớm hoàn thiện để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. 25

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Quy, 2006. Cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C. Hà Nội: Nhà xuất bản Lý luận chính trị. 2. Nguyễn Văn Tiến, 2008. Cẩm nang thanh toán quốc tế bằng L/C. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê. 3. Đinh Xuân Trình và Đặng Thị Nhàn, 2011. Giáo trình Thanh toán quốc tế. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. 4. ICC, 2007. Bộ tập quán quốc tế về L/C. Hà Nội: Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân.

26

LỜI CẢM ƠN Chúng em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giảng viên bộ môn Thanh toán Quốc tế của chúng em - ThS. Đinh Thị Hà Thu. Nhờ có những bài giảng tận tình, chi tiết của cô, chúng em đã có được thêm những hiểu biết về Thanh toán Quốc tế - một trong những bộ môn chuyên ngành quan trọng của sinh viên Ngoại thương nói chung và sinh viên khoa Tài chính Ngân hàng nói riêng. Tiểu luận của nhóm em được hoàn thành dựa trên ý hiểu của chúng em qua những bài giảng trên lớp, nếu có sai sót ở phần nào rất mong cô sẽ chỉ ra giúp chúng em để chúng em có thể sửa chữa và hoàn thiện bài một cách tốt nhất. Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn cô! Chúc cô luôn mạnh khỏe và công tác tốt ạ!

27

Xem thêm...

Bình luận

Bản quyền © 2017 SLIDEVN.COM Inc.